THUỐC DIỆT CÔN TRÙNG
BẢN ĐỒ

Xem Địa điểm đã lưu của tôi ở bản đồ lớn hơn
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 76
  • Lượt truy cập: 277149
SẢN PHẨM CHÍNH
CHI TIẾT TIN TỨC

Cây mía

Cây mía

Ngày tạo: 17/05/2013

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia03.jpgI.Đặc tính

1.Đặc tính thực vật học

         Cây mía có tên khoa học là Saccharum ssp. Thuộc họ Graminaea (họ Hoà Thảo).

       - Thân mía: Ở cây mía, thân là đối tượng thu hoạch, là nơi dự trữ đường được dùng làm nguyên liệu chính để chế biến đường ăn.

    Thân cây mía cao trung bình 2-3 m, một số giống có thể cao 4-5m. Thân mía được hình thành bởi nhiều dóng (đốt) hợp lại. Chiều dài mỗi dóng từ 15-20 cm, trên mỗi dóng gồm có mắt mía (mắt mầm), đai sinh trưởng, đai rễ, sẹo lá…

Thân mía có màu vàng, đỏ hồng hoặc đỏ tím. Tuỳ theo từng giống mà dóng mía có nhiều hình dạng khác nhau như: Hình trụ, hình trống, hình ống chỉ… Thân đơn độc, không có cành nhánh, trừ một số trường hợp bị sâu bệnh.

       -         Rễ mía: Cây mía có 2 loại rễ là rễ sơ sinh và rễ thứ sinh.

      + Rễ sơ sinh mọc ra từ đai rễ của hom trồng, có nhiệm vụ hút nước trong đất để giúp mầm mía mọc và sinh trưởng trong giai đoạn đầu (rễ tạm thời). Khi mầm mía phát triển thành cây con, thì các rễ thứ sinh mọc ra từ đai rễ của gốc cây con, giúp cây hút nước và chất dinh dưỡng. Lúc này các rễ sơ sinh teo dần và chết, cây mía sống nhờ vào rễ thứ sinh và không nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ trong hôm mía nữa.

       + Rễ thứ sinh là rễ chính của cây mía, bám vào đất để giữ cho cây mía không bị đỗ ngã, đồng thời hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây trong suốt chu kỳ sinh trưởng (rễ vĩnh cữu). Rễ mía thuộc loại rễ chùm, ăn nông, tập trung ở tầng đất mặt 30-40cm, rộng 40-60 cm.

       -         Lá mía: Cây mía có bộ lá phát triển mạnh, chỉ số diện tích lá lớn và hiệu suất quang hợp cao, giúp cây tổng hợp một lượng đường rất lớnLá mía thuộc loại lá đơn gồm phiến lá và bẹ lá. Phiến lá dài trung bình từ 1,0-1,5m có một gân chính tương đối lớn. Phiến lá có màu xanh thẩm, mặt trên có nhiều lông nhỏ và cứng, hai bên mép có gai nhỏ. Bẹ lá rộng, ôm kín thân mía,có nhiều lông. Nối giữa bẹ và phiến lá là đai dày cổ lá. Ngoài ra còn có lá thìa , tai lá… Các đặc điểm của lá cũng khác nhau tuỳ vào giống mía.

       -         Hoa và hạt mía:

        + Hoa mía (còn gọi là bông cờ): Mọc thành chùm dài từ điểm sinh trưởng trên cùng của thân khi cây mía chuyển sang giai đoạn sinh thực. Mỗi hoa có hình chiếc quạt mở, gồm cả nhị đực và nhụy cái, khả năng tự thụ rất cao.Cây mía có giống ra hoa nhiều, có giống ra hoa ít hoặc không ra hoa. Khi ra hoa cây mía bị rỗng ruột làm giảm năng suất và hàm lượng đường. Trong sản suất người ta thường không thích trồng các giống mía ra hoa và tìm cách hạn chế ra hoa.

       + Hạt mía: Hình thành từ bầu nhụy cái được thụ tinh trông như một chiéc váy nhỏ, hình thoi và nhẵn, dài khoảng 1-1,2mm. Trong hạt có phôi và có thể nảy mầm thành cây mía con, dùng trong công tác lai tạo tuyển chọn giống, không dùng trong sản xuất.Cây mía từ khi nảy mầm đến thu hoạch kéo dài trong khoảng 8-10 tháng tuỳ điều kiện thời tiết và giống mía.

2.    Yêu cầu điều kiện sinh thái

          a     Khí hậu:

       -         Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20-25OC. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp.Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp từ 20-25OC.Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6-9 lá), nhiệt độ thích hợp 20-30 OC.Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30-32OC.

       -   Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía. Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng. Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh. Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.200 giờ trở lên.

       - Lượng nước và ẩm độ đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía. Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng). Lượng mưa thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8-10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch.Cây mía là loài cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu ngập úng. Ở vùng đồi gò đất cao cần tưới nước trong mùa khô. Nhơi đất thấp cần thoát nước tốt trong mùa mưa. Thời kỳ cây mía làm dóng vương cao rất cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70-80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65-70%.

b.    Đất: Cây mía thích hợp ở loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp 5,5-7,5. Các loại đất như sét nặng, chua, mặn, bị ngập úng hoặc thoát nước kém… đều không thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển.Thực tế cho thấy, ở nước ta, cây mía được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất chua phèn ở đồng bằng Sông Cữu Long, đất đồi gò ở trung du Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam bộ. Tuy nhiên ở những vùng này ruộng trồng mía cần đạt những yêu cầu cơ bản, nhất là độ sâu tầng đất mặt và thoát nước. Nếu đất nghèo dinh dưỡng hoặc chua phèn thì cần bón phân đầy đủ và có biện pháp cải tạo đất.

3.    Yêu cầu chất dinh dưỡng

         Mía là cây trồng có khả năng tạo ra lượng sinh khối rất lớn, chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, 1 hecta mía có thể cho từ 70-100 tấn mía cây, chưa kể lá và rễ. Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của cây mía rất lớn. Ngoài các chất đa lượng NPK, cây mía rất cần canxi (Ca) và các chất vi lượng.

        -         Đạm (N): Là yếu tố rất quan trọng giúp cây mọc khoẻ, đâm nhiều nhánh, tốc độ làm dóng và vươn cao nhanh, năng suất cao. Trung bình 1 tấn mía tơ cần 1 kg N và một tấn mía để gốc cần 1.25 kg N. Ở giai đoạn đầu cây mía rất cần N, lượng N dự trữ trong cây mía ở giai đoạn đầu có ảnh hưởng đến suốt quá trình sinh trưởng và phát triển về sau. Tuy nhiên nếu bón nhiều đạm và không cân đối với lân, kali và bón muộn cây mía sẽ bị vóng, nhiều nước, lượng đường thấp và dễ nhiễm sâu bệnh.

        -         Lân (P): Lân giúp bộ rễ phát triển để hấp thu nước và chất dinh dưỡng, tăng khả năng chịu hạn, giữ sự cân đối giữa đạm và kali nên giúp cây phát triển khoẻ mạnh, tăng năng suất và chất lượng mía. Đối với công nghiệp chế biến đường, bón đủ lân sẽ giúp quá trình lắng trong nước mía và kết tinh đưòng được thuận lợi.Thiếu lân, bộ rễ phát triển kém, đẻ nhánh ít, thân lá nhỏ, cây cằn cỗi. Phần lớn đất trồng mía ở nước ta đều thiếu lân, nhất là vùng Đông Nam Bộ và Trung Du Phía bắc, do đó chú ý bón lân đầy đủ. Để có một tấn mía cây cần bón thêm 1,3 kg P2O5 .

       -         Kali (K): Là nguyên tố dinh dưỡng cây cần nhiều nhất. Để tạo ra một tấn mía cây cần 2,75 K2O. Kali có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp tạo ra đường. Đủ kali, cây mía cứng cáp, không đổ ngã, ít sâu bệnh, chín sớm và tăng tỉ lệ đường.

       -         Canxi (Ca): Canxi làm giảm độ chua trong đất, cải thiện tính chất vật lý đất, giúp sự phân giải chất hữu cơ và hoạt động của các vi sinh vật đất được tốt hơn, tạo điều kiện cho cây mía hấp thu chất dinh dưỡng hiệu quả hơn. Các vùng đất trồng mía của nước ta thường chua nên cần phải bón thêm vôi.

        -         Các chất vi lượng: Bao gồm các nguyên tố như magiê (Mg), sắt (Fe), mangan (Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu)… tuy cần ở số lượng ít nhưng rất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như chất lượng của cây mía. Đất ở nước ta do trồng lâu đời lại không chú ý bón bổ sung chất vi lượng nên thường bị thiếu. Nhiều thí nghiệm ở một số vùng cho thấy, nếu bón bổ sung các chất vi lượng đều có tác dung tăng năng suất và chất lượng mía rõ rệt.

II. GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG

1.    Giống mía

         Một giống mía tốt là giống cho năng suất cao, hàm lượng đường nhiều, thích hợp với điều kiện trồng trọt và chế biến của từng vùng. Yêu cầu này thể hiện ở các tiêu chuẩn chung là năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, tỉ lệ đường cao, chống chịu sâu bệnh, thích hợp điều kiện sinh thái và đất đai của từng vùng, để gốc tốt, không hoặc ít ra hoa, thích hợp với điều kiện chế biến của mỗi nơi.Sau đây là một số giống đã đước Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn cho phép sử dụng trong sản xuất ở nước ta.

-         Giống Comus: Được nhập nội từ Úc, hiện trồng chủ yếu ở các tỉnh Tây Nam Bộ. Giống này thích hợp vùng đất thấp, chín sớm (10-11 tháng), ra hoa muộn, tỉ lệ ra hoa ít. Năng suất cao (80-100 tấn mía cây/ha). Tỷ lệ đường khá cao, thân mềm thuận lợi trong chế biến.Nhược điểm của giống này là chịu hạn kém và dễ nhiễm sâu bệnh.

-         Giống F.156: Nhập nội từ Đài Loan, hiện trồng phổ biến ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Miền Bắc. Có thể trồng trên nhiều loại đất, chịu hạn và chịu phèn. Thời gian chín trung bình 11-12 tháng, ra hoa muộn và tỉ lệ ra hoa thấp (10-15%). Năng suất cao (80-100 tấn/ha). Kháng bệnh tốt nhưng dễ nhiễm sâu đục thân.

-         Giống MY-5514: Nhập nội từ Cuba, hiện trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ và Miền Bắc. Tốc độ tăng trưởng nhanh, thời gian chín trung bình đến muộn. Ở Miền Nam ra hoa nhiều, ở Miền Bắc ít hoặc không ra hoa. Năng suất cao (trên 100 tấn/ha), tỉ lệ đường khá, kháng sâu bệnh tốt.

-         Giống Ja 60-5: Nhập nội từ Cuba, hiện trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ và Miền Bắc. Chin sớm, ra hoa ít hoặc không ra hoa. Năng suất cao (70-100 tấn/ha), tỉ lệ đường rất cao. Để mía gốc tốt, tương đối kháng sâu bệnh.

-         Giống ROC 16: Nhập nội từ Đài Loan, được trồng ở các vùng. Tốc độ tăng truởng nhanh. Chín trung bình, để gốc tốt, năng suất cao, kháng sâu bệnh.Ngoài ra còn một số giống khá phổ biến như: ROC 10, ROC 20, ROC 22, F.134, F.154, QĐ 15, QĐ 86-368…

2.    Nhân giống

         Cây mía trồng bằng hom (nhân giống vô tính). Khi thu hoạch, người ta lấy thân làm nguyên liệu chế biến đường còn phần ngọn có 2-3 mắt dùng làm hom giống. Ngọn mía ít đường nhưng mọc mầm rất khoẻ, dùng làm hom giống rất tốt. Nhưng nhược điểm nếu chỉ lấy ngọn thì số hom ít, hệ số nhân giống thấp, chất lượng hom gióng không đồng đều và thường nhiễm sâu bệnh, thường chỉ dùng cho diện tích ít. Để khắc phục các nhược điểm trên phải làm ruộng nhân giống riêng.

-         Làm ruộng nhân giống: Làm ruộng nhân giống riêng có ưu điểm là cho nhiều hom giống, hệ số nhân giống có thể 5-6 lần. Ngoài ra còn tạo ra hom giống đồng điều có chất lượng cao, kiểm soát đuợc sâu bệnh.Ở Nam bộ, ruộng nhân giống được trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4-5) hoặc cuối mùa mưa (tháng 11-12). Khi cây mía được 6-8 tháng tuổi thì dùng cả cây làm hôm giống. Như vây 1 năm có thể làm 2 vụ giống mía, nâng hệ số nhân giống lên 10-12 lần.Ruộng nhân giống được trồng ở mật độ tương đối dày, khoảng cách hàng 0.8-1.0 m và phải được chăm sóc tốt, sạch sâu bệnh. Bón đạm vừa phải, tăng lượng lân và kali, thường xuyên làm sạch cỏ, bóc các lá già và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. Cây giống sau khi bỏ phần lá ngọn, tất cả được chặt thành từng đoạn hom, mỗi hom có 2-3 mắt mầm.- Cấy mô đơn bội:  Có thể sử dụng phương pháp cấy mô đơn bội để nhân nhanh giống mía với số lượng lớn. Tuy nhiên phương pháp cấy mô đòi hỏi phải có phòng thí nghiệm, có thiết bị và nhân viên kỹ thuật có kinh nghiệm, chi phí tốn kém. Ở nước ta phương pháp nhân giống này chưa áp dung trong sản suất.

III. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1.    Chuẩn bị đất

         Đất trồng mía yêu cầu phải bằng phẳng, tơi xốp, sạch cỏ, giữ ẩm tốt vào mùa khô và thoát nước tốt vào mùa mưa. Để đạt các yêu cầu trên cần tiến hành các công việc cày, bừa, san phẳng đất và rạch hàng đặt hom.

-         Đối với đất trồng mới: Ở vùng đất cao như Đông Nam Bộ và một số vùng khác, cần phải cày ủi, bứng hết gốc cây, sau đó cày bừa kỹ kết hợp san lấp bằng phẳng và rạch hàng đặt hom. Với vùng đất dóc thì hàng mía phải vuông gốc với hướng dốc để hạn chế xói mòn.Ở miền Tây Nam Bộ và các vùng đất thấp, cần phải lên líp để nâng cao mặt ruộng. Mặt líp rộng 4-6m, rãnh giữa các liếp rộng 1,0-1,5 , đủ đất để nâng mặt liếp lên 40-50 cm. Chú ý, khi lên liếp không đưa tầng đất phèn lên mặt ruộng tránh gây hại cây sau này. Sau khi lên liếp không nên trồng ngay mà phải để ít nhất qua một mùa mưa để rữa phèn, tốt nhất nên trồng 1-2 vụ đậu trước khi trồng mía. Trước khi trồng mặt liếp phải được cày sâu 20-25 cm, bừa cho tơi xốp, sạch cỏ dại rồi rạch hàng đặt hom.

-   Đối với đất đã trồng trọt: Thu gom hoặc cày vùi xác bã của cây trồng trước, Sau đó tiến hành cày bừa, san phẳng trước khi rạch hàng.

-   Đối với đất phá gốc mía trồng lại: Cày hoặc cuốc hết gốc mía cũ, để một thời gian cho gốc cũ khô chết hoàn toàn (khoảng 3-4 tuần), sau đó cày bừa trồng mới.

2.    Thời vụ trồng

        Thời vụ trồng mía thích hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng và đặc điểm của từng giống mía.

-         Miền Bắc: Có 2 vụ trồng chính là vụ đông xuân và vụ thu.Vụ đông xuân trồng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thu hoạch khi mía được 10-12 tháng tuổi. Đây là vụ chính hàng năm, tránh trồng khi thời tiết quá lạnh (khoảng tháng 1), vì trời rét mía mọc mầm rất kém.Vụ thu trồng tháng 9, thu hoạch sau 13-15 tháng. Do thời gian sinh trưởng kéo dài nên năng suất mía thường rất cao. Nhược điểm là khi cây lớn (khoảng 10-12 tháng tuổi) trùng với thời điểm mưa bão nhiều nên dễ bị đổ ngả. Nên chọn những giống cứng cây, chóng chịu với gió bão tốt để trồng vụ này.

-         Duyên hải Miền Trung: Có thể trồng vụ đông xuân và vụ thu. Vụ đông xuân có thể kéo dài đến tháng 4-5. Vụ thu bắt đầu trồng vào đầu mùa mưa (tháng 8-9), cây mía mọc mầm và sinh trưởng mạnh, năng xuất cao và tránh được sự trổ cờ ở một số giống.

-         Tây Nguyên: Thời vụ trồng chủ yếu là đầu mùa mưa (từ tháng 4- 6), thu hoạch 8-10 tháng tuổi. Những nơi chủ động được nước tưới có thể trồng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cây mía sẽ cho năng suất cao hơn do thời gian sinh trưởng dài hơn.

-         Đông Nam Bộ: Do đặc điểm vùng này là vùng đất cao, có mùa khô dài đến 5-6 tháng, giải quyết nước tưới trong mùa khô tương đối khó khăn do đó thời vụ trồng mía ở vùng này là phải tận dụng tuyệt đối lượng nước vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.Vụ đầu mùa mưa trồng vào tháng 5-6, thu hoạch khoảng 10-12 tháng sau trồng. Trồng vụ này, khi có mưa, đất đủ ẩm, mầm mía mọc nhanh, đẻ nhánh mạnh, sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Tuy vậy nếu gặp năm mưa muộn, nếu không chủ động được nước tưới thì tỉ lệ nảy mầm kém và mầm mía mọc yếu ớt.Vụ cuối mùa mưa, trồng khoảng tháng 10-11, thu hoạch sau 12-15 tháng do đó năng suất mía và tỉ lệ đường cao hơn vụ đầu mùa mưa. Do phải trải qua một mùa khô dài nên cần phải chọn những giống chịu hạn tốt. Khi trồng phải chú ý đến ẩm độ đất, nếu đất thiếu ẩm tỉ lệ nảy mầm kém và cây con sinh trưởng yếu. Một số nơi đất thấp, có nguồn nước tưới thì có thể trồng tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

-         Vùng Tây Nam Bộ: Đây là vùng đất thấp, hàng năm có lũ ngập vào háng 9-10. Một số nơi đất bị chua phèn và nhiễm mặn. Thời vụ trồng phổ biến ở đây là vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 4-6), thu hoạch sau 10-12 tháng. Thời điểm thu hoạch vào mùa khô nên rất thuận tiện, sau thu hoạch có thời gian làm đất bỏ ải để trồng lại vụ sau.Ở vùng ngập lũ hàng năm thường trồng ngay sau khi nước rút, khoảng tháng 11-12, thu hoạch mía sau 8-10 tháng trước khi nước lũ năm sau tràn về. Trồng mía ở vụ này cần chú ý chống hạn cho cây mía ở giai đoạn còn nhỏ và hạn chế xì phèn lên lớp đất mặt. Nếu đảm bảo các điều kiện trên thì năng suất mía và tỉ lệ đường khá cao.

3.    Chuẩn bị hom giống

         Có thể dùng hom ngọn hoặc hom thân và nên chọn hom có mắt mầm không quá già, tốt nhất là nên dùng hom ở ruộng nhân giống hoặc ở ruộng mía tốt khoảng 7-8 tháng tuổi. Hom giống phải đảm bảo không bị lẫn tạp giống khác và phải sạch sâu bệnh.Hom giống sau khi thu hoạch phải trồng ngay, nếu để lâu chất lượng sẽ giảm, hom càng tươi trồng càng tốt.Trong một số trường hợp hom mía cần phải được xử lý trước khi trồng. Một số giống có đặc tính mọc mầm chậm hoặc khi trồng gặp thới tiết lạnh có thể phải ủ một thời gian hoặc xử lý hoá chất để mọc mầm nhanh hơn. Ở các vùng thường hay nhiễm một số bệnh quan trọng như phấn đen, phấn trắng, thối nõn, nên xử lý dung dịch benomyl 0,2% trong khoảng thời gian 20-30 phút hoặc ngâm hom trong nước nóng 52OC.

4.    Khoảng cách và mật độ trồng

          Cần chọn khoảng cách và mật độ trồng thích hợp để cây mía đạt năng suất và chất lượng đường tới ưu nhất. Mật độ trồng có thể phụ thuộc vào các yếu tố như giống mía, điều kiện khí hậu, đất đai và tập quán canh tác.Ở các tỉnh Nam Bộ, do mùa khô kéo dài, điều kiện tưới khó khăn nên khoảng cách hàng trồng thường hẹp để tận dụng đất, giúp cây mía chịu hạn tốt hơn. Tuy nhiên nếu điều kiện chăm sóc bằng cơ giới thì khoảng cách hàng phải thưa hơn.Ở Miền Bắc, Miền Trung và một số nơi ở Tây Nam Bộ, do phải vun luống để chống đổ ngả vào mùa mưa bão và tạo rãnh để thoát nước nên khoảng cách trồng thưa hơn.Khoảng cách và mật độ trồng thường được áp dụng ở các vùng là:+ Khoảng cách hàng 1.0-1,2 m (34.000 hom/ha).+ Khoảng cách hàng 1.3-1.4 m (30.000 – 32.000 hom/ha).+ Khoảng cách hàng dưới 1 m (38.000 – 40.000 hom/ha).

5.    Cách trồng

-         Rạch hàng: Căn cứ vào khoảng cách hàng đã định để rạch hàng đặt hom. Độ sâu của hàng có thể khác nhau tỳ theo tầng canh tác và điều kiện sản xuất cụ thể. Ở vùng đất cao, khô hạng cần trồng sâu. Vùng đất thấp, chua phèn thì trồng cạn hơn. Độ sâu rạch hàng thường biến động trong khoảng 15-30 cm.

-         Bón lót: Trước khi đặt hom cần bón lót vào rãnh toàn bộ lượng phân hữu cơ, toàn bộ phân lân (P), một phần phân đạm (N) và một phần kali (K). Cần bón thêm một số thuốc trừ sâu dạng hạt như Diaphos, Furadan… để phòng sâu đục thân và mối.

-         Đặt hom: Sau khi hoàn tất công việc rạch hàng, bón lót phân thì tiến hành đặt hom giống. Có nhiều kiểu đặt hom khác nhau:

+ Đặt 1 hàng nối tiếp nhau.

+ Đặt 2 hàng cặp đôi.+ Đặt 2 hàng so le (kiểu nanh sấu).

+ Đặt hom xiên kiểu xương cá.Nếu chất lượng hom giống tốt, đất đủ ẩm thì nên đặt hom theo kiểu 1 hàng nối tiếp hoặc kiểu 2 hàng so le để tiết kiệm hom giống.Chú ý, khi đặt hom, mắt mầm phải nằm hai bên hom để mọc mầm dễ hơn. Cần chuẩn bị một số hom giâm sẵn để trồng dậm nếu thấy cần thiết.

- Lấp đất: Đây là một trong những công đoạn không kém phần quan trọng, ảnh hưởng đến tỉ lệ nảy mầm và mật độ cây mía sau trồng. Đặt hom đến đâu phải lấp đất ngay đến đó, không để hom phơi lâu trên ruộng. Đất lấp kín hom với độ dày vừa phải (khoảng 3-5 cm). Ở vùng đất cao, nếu trồng vào cuối mùa mưa (tháng 11-12) cần phải lấp đất sâu hơn và phải nén chặt để hom tiếp xúc với đất, như vậy hom mía không bị chết khô.     

6.Tưới nước, trồng xen

          Đy bệnh…

+ Không để ruộng mía bị ngập úng kéo dài.

+ Tăng cường chăm sóc giúp cây sinh trưởng tốt, tránh gây vết thương khi chăm sóc.+ Phòng trừ sâu đục thân, thu hoạch sớm.

7.Phòng trừ sâu bệnh hại trên mía 

7.1 Phòng, trị bệnh thối đỏ ruột mía

bệnh thối mía đỏTriệu chứng bệnh

Các bộ phận lóng, mầm mía, lá bẹ, phiến lá, rễ đều có thể bị hại, nhưng chủ yếu hại thân, lóng và lá, nhất là khi lá mía đã vươn cao. Thân mía bị bệnh lúc đầu nhìn bên ngoài rất khó phát hiện vì triệu chứng ở trong ruột mía phát triển một thời gian dài không lộ ra ngoài vỏ. Cho nên phải lấy dao chẻ thân mía ra mới thấy bên trong ruột vết bệnh màu đỏ huyết. Lúc đầu vết bệnh trong ruột thân chỉ là một điểm nhỏ màu nhạt, sau lan rộng kéo dài trong lóng mía tạo thành những mảng lớn màu đỏ huyết. Vết bệnh có thể thối, lên men rữa ra, ruột mía có chỗ hơi rỗng và có mùi rượu, vị chua nhạt và đến khi đó vỏ thân bên ngoài mới mất sắc bóng, tóp nhỏ, có kiểu vết hằn màu tía đỏ, bên trên sinh ra nhiều hạt đen nhỏ là các đĩa cành của nấm gây bệnh. Cây bị bệnh lá ngọn thường vàng héo, nếu bị nặng toàn cây khô, chết. Trên lá vết bệnh xuất hiện ở gân chính trong lòng máng sống lá, vết bệnh rất rõ rệt, lúc đầu là điểm nhỏ màu hồng sau loang rộng dọc theo gân chính thành hình bầu dục dài, có khi chỉ là một vệt dài 5 - 6cm có màu đỏ huyết, ở giữa vết bệnh màu đỏ nhạt hơn, trên đó cũng sinh ra những hạt đen nhỏ là những địa cành của nấm, mô bệnh lúc đó dễ nứt vỡ, nát ra, phiến lá rách, lá dễ bị gãy gập ở chỗ bị bệnh.

Quy luật phát sinh, phát triển và lây lan của bệnh

Nấm sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ 27 - 32°C, pH 5 - 6. Khi nhiệt độ quá thấp (dưới 10°C), hoặc quá cao (trên 37°C) nấm sinh trưởng kém.

Bệnh thối đỏ ruột mía phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao, mưa nhiều, trời nóng ẩm. Tuy nhiên trong điều kiện nhiệt độ thấp 15 - 20°C mía sinh trưởng chậm, sức chống bệnh thấp thì nấm vẫn gây tác hại. Nấm xâm nhiễm dễ dàng qua vết thương xây xát, do đó mức độ bệnh còn liên quan tới mức độ sâu đục thân mía phá hại. Nói chung, sâu đục thân càng nhiều thì bệnh càng nặng. Mặt khác gió mưa nhiều, nơi cất trữ mía không thoát nước cũng là những yếu tố thúc đẩy sự phát sinh, phát triển của bệnh. Đất quá ẩm, quá chua đều hạn chế sự sinh trưởng của mía và thúc đẩy phát triển bệnh.

- Những giống mía bị bệnh cũng khác nhau, các giống mía vỏ xanh thường bị bệnh nhiều hơn giống mía vỏ vàng. Giống 2714 POJ bị nặng còn giống 2883 POJ, 2878 POJ, F 103 bị bệnh nhẹ hơn các giống mía có hàm lượng fenol cao cũng có khả năng chống chịu bệnh cao hơn.

Biện pháp phòng trừ

- Biện pháp có hiệu quả nhất là tuyển lựa những giống mía chống bệnh trồng ở các vùng đất bị bệnh nặng hàng năm.

- Làm tốt vệ sinh đồng ruộng, thu chặt hết những thân, lá mía bị bệnh, không để sót lại trên đất ruộng.

- Tăng cường các biện pháp giúp cây sinh trưởng tốt, khi bệnh xuất hiện cần làm cho ruộng thoáng hơn, bóc lá bệnh đem đốt. Tăng cường phòng trừ sâu đục thân, tranh thủ thu hoạch sớm, mía thu hoạch không để chất đống đọng nước.

- Trước khi trồng cần loại bỏ các hom bệnh là biện pháp quan trọng nhất. Trong trường hợp cần thiết phải xử lý hom giống bằng cách ngâm vào dung dịch CuSO4 1% trong 2 giờ. Sát trùng đầu cắt hom giống trong nước vôi 1% hoặc dung dịch boocđô 1%, xử lý hom giống bằng nước nóng 52°C trong vòng 20 phút có tác dụng thúc đẩy mầm và tiêu diệt mầm bệnh.

Khi bệnh xuất hiện có thể dùng một số loại thuốc hoá học có tác dụng nội hấp, phổ rộng phun lên tán lá như: Romil 72WP 1,5 - 2kg/ ha; Alphacol 700WP (1 - 1,5kg/ha). Nên cho thêm chất bám dính 20ml/16lít nước lam tăng hiệu quả của thuốc. Mỗi loại thuốc nên phun 3 - 4 lần/vụ, rồi chuyển sang loại khác để hạn chế khả năng nhờn thuốc của nấm bệnh. Khi bệnh có chiều hướng gia tăng nên phối hợp hai loại thuốc trị bệnh, hiệu quả trị bệnh sẽ tốt hơn.

7.2 Sâu Đục Thân hại Mía

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia05.jpg

Tên khoa học :

Scirpophaganivella (Sâu đục thân mình trắng),họ Ngài sáng : Pyralidae

Procerasversonata (Sâu đục thân 4 vạch), họ Ngài sáng : Pyralidae

Chilosuppressalis (Sâu đục thân 5 vạch),họ Ngài sáng : Pyralidae

Argyroploce(Eucosma) schistaceana (Sâu đụcthân mình vàng), họ Eucosmidae

Sesamiainferens (Sâu đục thân màu hồng),họ Noctuidae

Bộ Cánh vẩy : Lepidoptera

Đặc điểm sinh học và cách gây hại

a. Sâu đục thân mình trắng:

                                                                              

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia05canhtrang.jpgVòng đời trung bình 45-55 ngày, thời gian trứng 7-9 ngày, sâu non 27-31 ngày, nhộng 9-11 ngày, bướm đẻ trứng 2-4 ngày.

Bướm hoạt động ban đêm, đẻ trứng thành ổ ở mặt lưng lá mía. Một bướm cái đẻ 2-3 ổ trứng.Trứng nở vào buổi sáng, sâu mới nở rất nhanh nhẹn, thường nhả tơ nhờ gió đưa sang các cây khác, tìm vào chổ gốc lá đọt đục vào thẳng xuống dưới ngọn phá hại điểm sinh trưởng làm ngọn mía bị héo và gẫy cụt, các mầm nhánh đâm ra thành hìnhchổi.

b.Sâu đục thân 4 vạch :

Vòng đời trung bình 55-60 ngày, trong đó thời gian trứng 6-8 ngày, sâu non 35-40 ngày, nhộng9-11 ngày, bướm đẻ trứng 3-5 ngày.

Bướm hoạt động ban đêm, sau khi đẻ 5-6 ngày thì trứng nở vào buổi sáng cho đến lúc gần trưa.Sâu non mới nở tập trung ở lá nõn ăn phiến lá, thải ra nhiều phân sâu. Khi lá đọt nở ra thấy nhiều vết hại hoặc các lỗ thủng hình tròn.Sang tuổi 3, sâu phân tán đụcvào thân cây. Lúc mía còn nhỏ (giai đoạn đẻ nhánh) chưa có lóng, sâu đục vào đỉnh sinh trưởng gây hiện tượng chết mầm. Khi mía lớn có lóng, sâu đục vào đốt thân , chung quanh lỗ đục màu vàng khô. Trong thân mía sâu đục thành hang ngách thông từ đốt này sang đốt khác và đùn phân ra ngoài, ảnh hưởng đến sự vậnchuyển nhựa và làm mía dễ gẫy ngang thân khi có gió mạnh, khi gãy mầm thân mọc ra nhiều. Đường đục cũng tạo điều kiện cho nấm bệnh thối đỏ xâm nhập.

c. Sâu đục thân mình vàng :

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia05canhvang.jpgVòng đời trung bình 40-53 ngày, trong đó thời gian trứng 6-8 ngày, sâu non 20-30 ngày, nhộng8-10 ngày, bướm đẻ trứng 3-5 ngày.

Bướm hoạt động và đẻ trứng vào ban đêm.Trứng được đẻ rời rạc từng quả hoặc 2-3 quả.

Thời kỳ mía mầm đa số đẻ ở phiến lá và bẹ lá, khi mía có lóng đẻ trứng trên thân cây.

Sâu non nở rathì bò hoặc nhả tơ đu xuống, chui vào nách lá. Lúc mía mầm, sâu đục vào phần non mềm gốc mía, cắn đứt điểm sinh trưởng làm mầm khô héo chết. Thời kỳ mía vươn cao, sâu đục vào mầm mắt, đai rễ làm mía dễ gẫy khi gặp gió to.

Sâu đục thân mình vàng gây hại chủ yếu thời kỳ mía mầm.

d. Sâu đục thân 5 vạch :

Vòng đời trung bình 40-55 ngày, trong đó thời gian trứng 5-6 ngày, sâu non 25-35 ngày, nhộng 5-8 ngày, bướm đẻ trứng 3-5 ngày.

Bướm hoạt động ban đêm. Trứng đẻ ở bẹ lá gần gốc mầm mía.

Sâu non nở ra bò lên phía trên chui vào nách bẹ lá rồi đục vào điểm sinh trưởng làm ngọn mía bị héo, mầm mía chết khô.

Mía gốc nhiều năm sâu phá hại nặng. Mía vùng đồi hoặc bị khô hạn thì sâu đục thân 5 vạch phát sinh nhiều.

e. Sâu đục thân mình hồng :

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia05mauhong.jpgSâu mình hồng đẻ trứng trong bẹ lá ở những lá già bắt đầu bong hoặc đốt mía gần mặt đất.

Sâu non mới nở sống tập trung trong bẹ lá, sâu tuổi 2-3 mới phân tán phá hoại. Vị trí lỗ đục tương đối cao, có nhiều phân đùn ra. Sâu đục thành đường ngầm từ lóng này sang lóng khác, cây bị hại thường héo và gãy ngọn, mầm thân mọc ra.

Thường gây hại lúc mía có 5-7 lóng.

Biện pháp phòng trừ :

Trồng giống mía chống chịu sâu.

Cày xới phơi đất để diệt các mầm móng của sâu đục thân còn trong đất.

Thu hoạch mía chặt sát gốc, thu gom hoặc đốt tàn dư sau thu hoạch.

Diệt cỏ kịp thờitrong ruộng mía và quanh bờ, tránh nơi ẩn náu của sâu.

Bóc lá già thường xuyên để loại trừ ổ trứng sâu.

Dùng thuốc hóa học :

SUPER TAX 500EC, SUCOTOC 666EC, CYMERIN 25EC: pha 30-40 ml/bình 25 lít nước (250 – 300 ml/thùng phuy 200lít nước). Phun lúc mía mọc mầm, lúc mía vươn lóng.

SUGADAN 30G:Dùng 8-10 kg/ha.Rải lúc đặt hom hoặc khi vun gốc lần đầu.

7.3 Rệp bông trắng hại mía

                                                

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia07.jpgRầy bu trắng mặt dưới lá mía thật ra là con rệp bông trắng có tên khoa học là Ceratovacuna lanigera là một loài dịch hại nguy hiểm không những đối với sinh trưởng và phát triển của cây mía mà còn có ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng đường.

 Có hai dạng rệp có cánh và không cánh, rệp có cánh tuy chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong quần thể rệp nhưng có tác hại không kém rệp không cánh vì có thể di chuyển và lây lan từ ruộng này sang ruộng khác, từ vụ trước đến vụ sau. Rệp không cánh tuy ít di động nhưng tuổi thọ dài và đẻ rất sai, một đời rệp trưởng thành không cánh có thể đẻ đến hàng trăm con rệp con. Sở dĩ gọi là rệp bông trắng vì rệp trưởng thành lẫn rệp non ở phần ngực và bụng có phủ một lớp sáp như bông trắng càng lớn càng dầy hơn lên...

Ảnh hưởng của loại rệp này lên năng suất và chất lượng mía rõ nhất là khi chúng phát sinh thành dịch, trong điều kiện nóng ấm, ẩm độ cao, cây mía đang sinh trưởng mạnh và trong quá trình tích lũy đường đặc biệt là trên những ruộng mía um tùm thiếu ánh sáng. Cả mấy đời rệp cùng sống tập trung ở lưng lá mía, dọc theo gân lá để chích hút dịch cây, trực tiếp ảnh hưởng đến sinh trưởng của mía, mặt khác, chất bài tiết của rệp là môi trường tốt cho bệnh muội đen phát triển trên lá và thân mía ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây. Kết quả là cây sinh trưởng còi cọc, giảm năng suất và chữ đường, nếu bị hại nặng thì ngọn có thể mất khả năng nảy mầm, gốc thì không nảy chồi được, ảnh hưởng lớn đến mật số của vụ mía lưu gốc. Khi thời tiết trở nên phù hợp hơn để rệp có cánh nhiều, mưa giảm, thuận lợi cho sự di trú từ nơi này sang nơi khác, quần thể rệp phát triển mạnh vào giữa và cuối vụ mía thì khả năng lây lan từ ruộng mía lớn sang ruộng mía nhỏ mới vươn lóng là rất lớn. Do đó, bạn nên chú ý và có biện pháp phòng trừ tích cực như sau:

- Từ vụ sau, không nên bố trí 2 vụ mía liền kề sát bên nhau như hiện trạng hai ruộng mía của bạn, điều này vừa tiện lợi khi tiến hành các biện pháp canh tác và bảo vệ thực vật, vừa có lợi cho việc ngăn ngừa rệp di chuyển gây hại từ ruộng mía lớn sắp thu hoạch sang ruộng mía tơ đang phát triển.

- Bón đạm sớm và cân đối đạm, lân và kali.

- Làm sạch cỏ và cắt lá già để ruộng mía được thông thoáng.

- Theo dõi và phát hiện kịp thời các ổ rệp để vuốt bằng tay sẽ hiệu quả và ít độc hại.

- Nếu mật số rệp cao và có nguy cơ lan sang ruộng mía tơ thì dùng một trong các loại thuốc như :  SUPER TAX 500EC, CYMERIN 25EC, SUCOTOC 666EC, .. để luân phiên phun, có thể pha thuốc với chất bám dính TOBON, dầu khoáng SK Enspray 99EC sẽ có tác dụng diệt rệp cao hơn.

Chú ý :

- Cần trang bị bảo hộ lao động đầy đủ khi phun thuốc, nên phun lúc trời mát và phun kỹ ở mặt dưới lá.

 

 7.4 Rầy đầu vàng hại mía                                      

Tên khoa học : Eoeurysa flavocapitata Muir
http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia06.jpgTên tiếng Anh: Black Leafhopper, Yellow Headed Planthopper
Họ: Muội (Delphacidae) 
Bộ: Cánh đều (Homoptera)

Rầy đầu vàng (Yellow Headed Planhopper) còn được gọi là rầy đen (Black Planthopper) gây hại trên mía. Rầy đầu vàng (RĐV) cũng thấy xuất hiện trên mía ở các nước lân cận như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan… Đây là đối tượng sâu hại ít gây ảnh hưởng kinh tế quan trọng trên mía như các đối tượng sâu hại khác và tương đối dễ phòng trị.
Vụ Hè Thu năm 2001, RĐV cũng đã xuất hiện trên một số ít diện tích mía ở Tây Ninh nhưng không phát sinh thành dịch và gây hại nghiêm trọng. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu long từ năm 2005 đã bắt đầu thấy RĐV xuất hiện. Hiện nay (tính đến cuối tháng 08 năm 2006) có gần 10 000 ha mía ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang bị nhiểm RĐV.
Hiện nay, bà con nông dân và lãnh đạo địa phương đang khẩn trương tìm cách hạn chế RĐV lây lan, gây hại và bước đầu đã đạt được nhiều kết quả khả quan.

Đặc điểm hình thái

http://www.baovecaytrong.com/image/kythuat/trongtrot/mia06dauvang.jpgRầy trưởng thành dài 4 – 5 mm, toàn thân màu nâu sẩm, đầu và lưng ngực trước màu vàng, mắt kép hình bầu dục, màu nâu đen, chung quanh có đường viền nhỏ màu đỏ. Râu hình côn, đốt đều màu đen, đốt có lông dài màu nhạt hơn. Miệng kiểu chích hút, đoạn nhọn màu nâu sẩm, đoạn cuối có mạt phần màu trắng. Cánh trước hình gần chữ nhật, mà đen, đoạn cuối chổ ¼ cánh có vệt ngang màu vàng nhạt rất rõ. Gân cánh đơn giản, trên cánh có lông ngắn và chấm tròn đen. Cánh sau nhỏ, không màu, trong suốt. Chân trước và chân sau to nhỏ khác nhau, đốt đùi và đốt ống chân dài bằng nhau, đốt bàn chân đều màu vàng sẩm, đốt đùi chân sau giống như đốt đùi chân trước và chân giữa, đốt ống chân phát triển hơn. Đoạn mép ngòai và giữa có một đoạn gai nhô ra màu nâu đỏ. Rầy cái có kích thước 4,05 mm X 1,11 mm, rầy đực nhỏ hơn.
Trứng nhỏ, dài khoảng 0,7 mm X 0,18 mm, hình kiếm, hai đầu tù, bề mặt trơn nhẳn, mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu vàng nhạt đến vàng sẩm, thấy rõ hai điểm mắt màu đỏ nhạt.
Rầy non có 5 tuổi, mới nở màu vàng nhạt, tuổi 2-3 có màu sẩm hơn, tuổi 4 đã thấy mầm cánh rõ ràng. Tuổi 5 rầy non có màu vàng đậm, đầu tù, mắt kép màu nâu nhạt, mầm cánh sau dài đến đốt bụng thứ 4, mầm cánh trước đã che kính cánh sau. Con cái có kích thước 3,26 mmm X 1,04 mm, con đực nhỏ hơn. 

Đặc điểm sinh học và tác hại           
Rầy thường xuất hiện ở các ruộng mía trồng lẻ tẻ, diện tích nhỏ, tháo nước không tốt hoặc gần làng mạc, trồng dầy. Chủ yếu gây hại trên mía non ở các lá chưa mở hoặc lá non mới xòe, thường xuất hiện trên mía Hè thu từ đẻ nhánh đến 4 – 6 lóng. 
Rầy trưởng thành họat động nhanh nhẹn, có tính hướng sáng, ban đêm vào đèn nhiều. Rầy cái đẻ trứng vào hai mép gân lá, Rầy non mới nở bò men theo mép gân lá đến đọt. Rầy non và rầy trưởng thành tập trung ở lá đọt hay lá mới xòe ra chích hút nhựa lá. Lá mía bị hại có những chấm vàng về sau liên kết nhau tạo thành vết vàng lớn, trên đó có lớp bọt trắng hoặc lớp dịch trong suốt. Lớp dịch nầy thu hút ruồi, kiến, ong…đến, sau một thời gian biến thành những chấm tròn màu đen và có mùi hôi.. Cây mía bị nặng lá đọt bị thối, lá xanh giảm và biến dạng nhỏ, ngắn, ảnh hưởng đến sinh trưởng và tích lũy đường của cây mía. 
Mật độ rầy thường cao vào các tháng 4 – 5, 7 – 8 và 11 - 12. Hằng năm ở các tỉnh phía Bắc, rầy phát sinh 6 – 7 lứa, thời gian một lứa khỏang 40 – 50 ngày, trong đó thời gian trứng 8 - 12 ngày, rầy non 25 – 30 ngày, rầy trưởng thành đẻ trứng 5 – 19 ngày và có thể sống đến 1 tháng. Ở miền Đông rầy xuất hiện từ tháng 7 – 10 sau đó giảm dần.

Biện pháp phòng trừ
-Trồng mía tập trung ít bị hại hơn trồng lẻ tẻ
-Trồng các giống kháng như: F 177, F 178, ROC 5, ROC 16, R 570
-Kiểm tra ruộng mía khi thấy có 5 – 10 con/cây thì cho phun xịt thuốc trừ rầy.
-Phun một trong các loại thuốc sau:
Aperlaur10 WP, 25WP, 500WP (Buprofezin): pha 20 - 40 g/bình 16 lít nước, phun 3 - 4 bình/1000 m2
Sucotoc 666 EC  pha 20 - 30 cc/bình 16 lít, phun 3-4 bình/1000 m2

    
* Super tac 500 EC (Chlorpyrifos+Alpha Cypermethrin): pha 25-30 cc/bình 16 lít, phun 2-3 bình/1000 m2
-Có thể phối hợp dầu khóang, bám dính với các thuốc trên với liều 40 cc/bình 16 lít để tăng hiệu lực trừ rầy
-Phun vào sáng sớm, chiều mát, phun kỹ vào đọt non, loa kèn

7.5 Biện pháp phòng trừ cỏ dại ruộng mía

Thực tế đồng ruộng cho thấy, đã có những trường hợp bà con không áp dụng những biện pháp phòng trừ cỏ thích hợp và kịp thời, cỏ đã tranh chấp dinh dưỡng, nước, ánh sáng của cây mía, lấn át cây mía, làm cho cây còi cọc, không phát triển được, gây thất thu năng suất nghiêm trọng và thiệt hại rất lớn cho người trồng.

Để hạn chế cỏ dại, ngoài những biện pháp canh tác mà bà con vẫn thường làm như thu gom sạch sẽ cỏ dại trước khi làm đất đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy, cày bừa kỹ để chôn vùi hạt cỏ xuống dưới tầng đất sâu, thường xuyên nhổ những cây cỏ còn sống sót sau khi đã áp dụng các biện pháp diệt cỏ khác, không để những cây cỏ này ra hoa kết trái rụng hạt xuống tích lũy trong đất… thì việc dùng thuốc trừ cỏ là cần thiết; đặc biệt là ở những vùng trồng mía tập trung chuyên canh có diện tích trồng lớn nhưng lại thiếu nhân lực nhổ cỏ bằng tay hoặc áp dụng các biện pháp khác.

Hiện nay trên thị trường có khá nhiều loại thuốc diệt cỏ cho ruộng mía nhưng theo kinh nghiệm của những bà con chuyên canh mía ở Tây Ninh, Đồng Nai… thì những loại thuốc sau đây đã cho hiệu quả rất cao.

- Thuốc trừ cỏ Amet super 80WP là thuốc trừ cỏ có tác động nội hấp, thuốc xâm nhập vào trong cây cỏ qua lá và rễ. Tác động diệt cỏ ở giai đoạn tiền nẩy mầm và hậu nẩy mầm sớm. Với tính năng này, bà con có thể phun thuốc ngay sau khi đặt hom trồng hoặc khi cỏ đã mọc nhưng còn nhỏ (khoảng 2 - 3 lá).

Thuốc Amet super 80WP có khả năng diệt trừ được nhiều loại cỏ thường có mặt và gây hại trong ruộng mía như cỏ lồng vực cạn, cỏ mần trầu, cỏ bông tua, chân gà, dền gai, rau xam, cỏ mực…

Về liều lượng, bà con có thể sử dụng từ 2,5 - 3 kg thuốc cho 1 ha, tức là pha 80 - 100 gram thuốc cho một bình 16 lít, pha xong phun 2,5 - 3 bình cho một công ruộng (1.000 m2).

-Thuốc Misaron 80WP là thuốc trừ cỏ nội hấp chọn lọc, xâm nhập vào cây cỏ qua rễ và lá. Cũng giống như Amet super  80WP, thuốc Misaron 80WP có ưu điểm là diệt được nhiều loại cỏ lá hẹp và lá rộng hàng niên mọc từ hạt thường có mặt trong ruộng mía như cỏ lồng vực cạn, cỏ mần trầu, cỏ bông tua, chân gà, dền gai, rau sam, cỏ mực…

Thuốc có tác dụng diệt cỏ ở giai đoạn tiền nẩy mầm và hậu nẩy mầm sớm. Với tính năng này bà con có thể phun thuốc ngay sau khi đặt hom trồng hoặc khi mía đã mọc, cỏ còn nhỏ (tránh phun thuốc vào ngọn mía).

Về liều lượng, bà con có thể sử dụng từ 1,5 - 2,5 kg thuốc Misaron 80WP cho 1 ha, tức là pha 50 - 80 gram thuốc/bình xịt 16 lít, pha xong phun 3 bình cho một công ruộng (1.000 m2).

Khi sử dụng hai loại thuốc trên bà con nhớ lưu ý:

*Nếu phun khi cỏ chưa mọc thì đất phải ẩm thuốc mới có hiệu quả cao. Nếu đất khô cần tưới ẩm trước khi phun.

*Đối với thuốc Amet super 80WP, khi phun tránh để thuốc bay tạt vào các cây trồng mẫn cảm với loại thuốc này như lúa, rau cải, ngũ cốc, măng tây, đậu nành, đậu phọng, đậu xanh, đay, khoai tây.

*Sau khi phun thuốc, phải rửa thật sạch bình phun trước khi dùng bình này để phun các loại thuốc khác.

Thuốc trừ cỏ mía

 

 

 

Ks. NN Trần Đình Quý

CTY VINASTAR- STAR CAB CTY VINASTAR -CAMAMI CTY VINASTAR-SIEU KEM CTY VINASTAR - KALIBO CTY VINASTAR - SIEU BO CTY VINASTAR- SIÊU RA HOA CTY VINASTAR - STARIPHOS CTY VINASTAR - MONTAR CTY VINASTAR - STAR HUMIC CTY VINASTAR - METALIX CTY VINASTAR- TAKANA GOLD CTY VINASTAR - SIEU TAO CU KHOAI LANG CTY VINASTAR- 7-6-47 TE CTY VINASTAR - T CTY VINASTAR- BANG DON CTY VINASTAR - SIEU LÂN ĐỎ CTY VINASTAR - PYMOTA CTY VINASTAR - DRACO phân bón hữu cơ Humat 20 siêu to hạt til star
0965078079